LỤC THẬP TỨ QUÁI - PHONG THỦY VIETAA



Quẻ số 41: Địa Hỏa Minh Di (明夷) - Quẻ Hung

Bình: Thương dã. Hại đau. Thương tích, bệnh hoạn, buồn lo, đau lòng, ánh sáng bị tổn thương

Quẻ Minh Di chỉ thời vận xấu không thuận lợi cho mọi việc. Công danh sự nghiệp khó thành. Tài vận không có, kinh doanh thua lỗ. Kiện tụng kéo dài và thua kiện, nên cố gắng dàn hòa ngay từ đầu thì hơn. Đi xa không thuận. Thi cử khó đạt, ước nguyện khó thành. Bệnh tật dai dẳng, dễ bị nặng lên. Hôn nhân trắc trở, khó thành lương duyên. Tuy nhiên, phải có lòng kiên nhẫn chờ thời, giữ được trung chính, biết lấy "cái tối là cái sáng", thời cơ tốt ắt sẽ đến. Những tuổi nạp giáp: Kỷ: Mão, Sửu, Hợi. Quý hoặc Ất: Sửu, Hợi, Dậu. Người gặp quẻ này sinh tháng 8 là đắc cách, là thời vận tốt của tuổi này.

  • Hào sơ (Hào 1 - Hung)

      Hào xấu, chỉ sự bị nạn lúc đang hành sự như con chim bị thương lúc đang bay. Người quân tử phải bỏ trốn để lánh nạn, không khỏi bị người đời bàn tán. Quan chức đề phòng bị nghi ngờ. Người thường đề phòng tai bay vạ gió. Mệnh hợp là người có cơ mưu, sáng suốt, tránh được tai họa thời loạn, làm nên sự nghiệp. Kẻ sĩ thành công, thành danh. Mệnh không hợp cũng là người tài trí nhưng hay gặp gian nan

  • Hào nhị (Hào 2 - Cát)

      Hào bình, muốn làm việc lớn phải có lực lượng. Hào tốt cho những người có quyền lực, có thể lập nhiều công lớn; xấu cho những người thân có thế kém lại không biết lượng sức mình, dễ bị tai vạ. Mệnh hợp: người có binh quyền trị nước, làm cho dân yên, nước mạnh. Mệnh không hợp: kẻ lộng quyền đắc chí. Không biết lựa sức mình, dễ chuốc lấy tai vạ.

  • Hào tam (Hào 3 - Hung)

      Hào xấu, hào của tật ách và kiện tụng, cần đề phòng. Mệnh hợp: Người có công lớn nhưng không khỏi bị tổn thương. Mệnh không hợp: người phải điều đi công tác nơi xa xôi, gian khổ. Hoặc người bị thương ở tay, chân.

  • Hào tứ (Hào 4 - Hung)

      Hào xấu, gặp kẻ có ý đồ xấu muốn làm hại, nên lánh đi chỗ khác. Mệnh hợp: Người biết trước âm mưu của đối phương, có tài ứng phó, tránh được gian nan. Hoặc tố giác được âm mưu của kẻ xấu, góp sức ứng phó nên lập được công trạng. Mệnh không hợp: người bị kỷ luật, biếm trích; kẻ sĩ mai danh ẩn tích; người bị bệnh ở tim, bụng

  • Hào ngũ (Hào 5 - Hung)

      Hào xấu, có địa vị cao như Cơ Tử mà cũng phải giả điên để tránh sự sát hại của vua Trụ. Quan chức dễ bị nghi ngờ, truất giáng thải hồi. Kẻ sĩ không gặp thời, khó thành sự nghiệp. Người thường gia cảnh không yên vui. Mệnh hợp: Người có tài đức lớn, gặp thời hôn ám vẫn giữ được thân, nêu cao được chính nghĩa. Mệnh không hợp: Người không gặp may, gian nan bôn tẩu, sự nghiệp không thành.

  • Hào thượng (Hào 6 - Hung)

      Hào xấu, thiếu tài đức, ngồi cao không bền, dễ mắc sai lầm, gặp gian nan, vất vả. Kẻ sĩ long đong, không gặp vận. Người thường kinh doanh thua lỗ, công việc không thành. Mệnh hợp: người có tài đức, ở ngôi cao, lập công lớn, nhưng không bền. Về già dễ bị tai tiếng. Mệnh không hợp: Kẻ thiếu tài đức ở ngôi cao, không thận trọng làm bừa, gặp thất bại, gian nan.

Chi tiết về quẻ này theo cuốn "Kinh Dịch - Đạo của người quân tử (Nguyễn Hiến Lê)"

Quẻ số 41 - Địa Hỏa Minh Di (明夷) - Quẻ Hung

Tiến lên thì tất có lúc bị thương tổn, cho nên sau quẻ Tấn tiếp tới Minh di. Di [夷] nghĩa là thương tổn.
Thoán từ.
明夷: 利艱貞.
Minh di: Lợi gian trinh.
Dịch: Ánh sáng bị tổn hại, chịu gian nan, giữ điều chính thì lợi.
Giảng: Quẻ này ngược với quẻ Tấn ở trên; mặt trời (ly) lặn xuống dưới đất (Khôn) ánh sáng bị tổn hại, tối đi (Minh di).
Người quân tử ở thời u ám này, gặp nhiều gian nan, chỉ có cách giữ đức chính trinh của mình thì mới có lợi. Muốn vậy thì ở trong lòng giữ đức sáng mà ở ngoài thì nhu thuận để chống với hoạn nạn như tượng của quẻ Ly là sáng văn minh ở nội quái, Khôn là nhu thuận ở ngoại quái. Vua Văn Vương bị vua Trụ nghi ngờ, giam vào ngọc Dữu Lý, tỏ vẻ rất nhu thuận, không chống đối Trụ, mà để hết tâm trí vào việc viết Thoán từ giảng các quẻ trong Kinh Dịch, nhờ vậy Trụ không có cớ gì để giết, sau thả ông ra.
Không những ở ngoài phải tỏ vẻ nhu thuận, mà có khi còn nên giấu sự sáng suốt của mình đi nữa mà trong lòng vẫn giữ chí hướng, như Cơ tử một hoàng thân của Trụ. Trụ vô đạo, Cơ Tử can không được, giả điên, làm nô lệ, để khỏi bị giết, mong có cơ hội tái tạo lại nhà Ân; khi nhà Ân mất, ông không chết với Trụ, cũng không bỏ nước ra đi. Võ vương – con Văn Vương – diệt Trụ rồi, trọng tư cách Cơ Tử, mời ra giúp nước, ông không chịu; sau Võ vương cho ra ở Triều Tiên, lập một nước riêng. Như vậy là Cơ Tử giấu sự sáng suốt của mình để giữ vững chí, không làm mất dòng dõi nhà Ân (Hối kì minh, nội nạn nhi năng chính kì chí – Thoán truyện).
Đại tượng truyện bảo quân tử gặp thời Minh di, muốn thống ngự quần chúng nên dùng cách kín đáo mà lại thấy được rõ (dụng hối nhi minh), nghĩa là dùng thủ đoạn làm ngơ cho kẻ tiểu nhân , đừng rạch ròi, nghiêm khắc quá mà sẽ bị hại, tóm lại là làm bộ như không biết để chúng không nghi ngờ mình và để lộ hết dụng tâm của chúng ra mà mình sẽ biết được. Cơ hồ tác giả Đại tượng truyện muốn dùng thuật của Hàn Phi.
Hào từ.
1.
初九: 明夷, 于飛 垂其翼.君子于行, 三日不食, 有攸往, 主人有言.
Sở cửu: Minh di, vu phi thùy kì dực. Quân tử vu hành,
tam nhật bất thực, hữu du vãng, chủ nhân hữu ngôn.
Dịch: Hào 1, dương : ở thời u ám (ánh sáng bị tổn hại), hào này như con chim muốn bay mà cánh rũ xuống. Người quân tử biết thời cơ thì bỏ đi ngay, dù (không có tiền) phải nhịn đói ba ngày, mà đi tới đâu, gặp chủ cũ, cũng bị chủ cũ chê trách.
Giảng: Hào dương ở đầu thời Minh di, là người quân tử gặp thời hắc ám, có thể bị hại như con chim rũ cánh xuống. Cách xử thế là nên bỏ đi ngay, như Phạm Lãi bỏ nước Việt vì biết vua Việt là Câu Tiễn sẽ nghi ngờ mà hại các công thần, nhờ vậy tránh được cái hoạ bị giết như đại phu Chủng.
2.
六二: 明夷, 夷于左股, 用拯馬壯, 吉.
Lục nhị: Minh di, di vu tả cổ, dụng chửng mã tráng, cát.
Dịch: Hào 2, âm: Ở thời ánh sáng bị tổn hại, hào này như bị đau ở đùi bên trái, nhưng cũng mau khỏi, sẽ như con ngựa mạnh mẽ tiến lên, tốt.
Giảng: Hào này làm chủ nội quái Ly (sáng suốt), đắc trung, đắc chính , là bậc quân tử có tài, nhưng ở thời Minh di, hôn ám nên bị tiểu nhân làm hại ít nhiều, như bị thương ở đùi bên trái, nhưng rồi sẽ mau khỏi (dụng chửng), mà như con ngựa mạnh mẽ.
Tốt vì hào 2 trung, chính, lại vẫn thuận theo (vì là hào âm) phép tắc.
“dụng chửng mã tráng” R. Wilhelm giảng là : sẽ dùng sức con ngựa mạnh mà giúp đỡ người khác khỏi cơn nguy, J. Legge dịch là: tự cứu mình bằng sức một con ngựa mạnh. Chúng tôi theo Chu Hi và Phan Bội Châu.
3.
九三: 明夷, 于南狩, 得其大首, 不可疾, 貞.
Củu tam: Minh di, vu nam thú, đắc kì đại thủ, bất khả tật, trinh.
Dịch: Hào 3, dương: ở thời ánh sáng bị tổn hại, đi tuần về phương Nam, bắt được kẻ đầu sỏ, nhưng đừng hành động gấp, phải bền chí.
Giảng: Hào này ở trên cùng nội quái Ly là cực sáng suốt; nó là dương cương , ở vị dương, vậy là rất cương kiện, nó ứng với hào âm ở trên cùng quẻ Khôn (ngoại quái), hào này cực hôn ám. Nó sẽ đánh đổ hào âm đó. Nó cứ đem binh đi tuần về phương Nam (Nam thú: Phan Bội Châu giảng là đem quân tiến lên phía trước để trừ loạn) sẽ bắt được tên đầu sỏ phản loạn. Nhưng nó cương cường nóng nảy, nên phải khuyên: đừng gấp, phải bền chí giữ đạo chính.
4.
六四: 入于左腹, 獲明夷之心, 于出門庭.
Lục tứ: Nhập vu tả phúc, hoạch minh di chi tâm, vu xuất môn đình.
Dịch: Hào 4, âm: như vô phía bên trái của bụng (ý nói chỗ u ám); tấm lòng ở thời u ám (minh di) là nên bỏ nhà mà ra đi.
Giảng: Hào này âm nhu, ở vào thời Minh di, mà lại vượt quẻ Ly, sang quẻ Khôn rồi, tức bỏ chỗ sáng sủa, bước vào chỗ tối tăm, cho nên ví như vô phía bên trái của bụng. Nhưng hào này đắc chính (âm ở vị âm) nên có thể rút chân ra khỏi cảnh khốn nạn ấy được: cứ bỏ nhà ra đi, tức tránh cho xa cảnh đó, mặc nó.
Đó là hiểu theo Phan Bội Châu. Chu Hi nhận rằng không thấy được nghĩa hào này.
5.
六五: 箕子之明夷, 利貞.
Lục ngũ: cơ tử chi Minh di, lợi trinh.
Dịch: Hào 5, âm: như ông Cơ Tử ở thời u ám (Minh di), cứ bền giữ đạo chính thì lợi.
Giảng: Thường các quẻ khác, hào 5 là ngôi chí tôn, quẻ Minh di này hào trên cùng mới là ngôi chí tôn, hào 5 là người thân cận với ngôi chí tôn. Hào trên cùng là ông vua rất hôn ám như vua Trụ, hào 5 là người thân cận có đức trung, như ông Cơ Tử; ông giả điên để khỏi bị Trụ hại mà sau giữ được dòng dõi nhà Ân, như vậy là giữ vững đạo chính, ở ngoài làm ra vẻ hôn mê, mà trong lòng vẫn sáng suốt.
6.
上六: 不明晦, 初登于天, 後入于地.
Thượng lục: Bất minh di, sơ đăng vu thiên, hậu nhập vu địa.
Dịch: Hào trên cùng, âm: không còn là ánh sáng bị tổn thương nữa, lên cao tới trời mà rồi sụp xuống đất.
Giảng: Hào trên cùng, âm; ở cuối cùng thời Minh di, lại ở trên cùng ngoại quái Khôn, tức như người có địa vị tối cao mà lại hôn ám cùng cực; như vậy là tối mù mù, chứ không phải chỉ là ánh sáng bị tổn hại (Minh di), nữa, cho nên Hào từ bảo là “bất minh di”. Có cái tượng lên cao tới trời (địa vị tối cao) mà rồi sụp xuống đất.

*

Quẻ này khuyên người quân tử ở thời hắc ám quá thì có thể bỏ nhà, nước mà đi; hoặc muốn ở lại thì giấu sự sáng suốt của mình mà giữ vững đạo chính để chờ thời.
 

Nhấn vào tên quẻ để xem bình giải chi tiết

Thuần Khôn (坤)
Sơn Địa Bác (剝)
Thủy Địa Tỷ (比)
Phong Địa Quan (觀)
Lôi Địa Dự (豫)
Hỏa Địa Tấn (晉)
Trạch Địa Tụy (萃)
Thiên Địa Bĩ (否)
Địa Sơn Khiêm (謙)
Thuần Cấn (艮)
Thủy Sơn Kiển (蹇)
Phong Sơn Tiệm (漸)
Lôi Sơn Tiểu Quá (小過)
Hỏa Sơn Lữ (旅)
Trạch Sơn Hàm (咸)
Thiên Sơn Độn (遯)
Địa Thủy Sư (師)
Sơn Thủy Mông (蒙)
Thuần Khảm (坎)
Phong Thủy Hoán (渙)
Lôi Thủy Giải (解)
Hỏa Thủy Vị Tế (未濟)
Trạch Thủy Khốn (困)
Thiên Thủy Tụng (訟)
Địa Phong Thăng (升)
Sơn Phong Cổ (蠱)
Thủy Phong Tỉnh (井)
Thuần Tốn (巽)
Lôi Phong Hằng (恆)
Hỏa Phong Đỉnh (鼎)
Trạch Phong Đại Quá (大過)
Thiên Phong Cấu (姤)
Địa Lôi Phục (復)
Sơn Lôi Di (頤)
Thủy Lôi Truân (屯)
Phong Lôi Ích (益)
Thuần Chấn (震)
Hỏa Lôi Phệ Hạp (噬嗑)
Trạch Lôi Tùy (隨)
Thiên Lôi Vô Vọng (無妄)
Địa Hỏa Minh Di (明夷)
Sơn Hỏa Bí (賁)
Thủy Hỏa Ký Tế (既濟)
Phong Hỏa Gia Nhân (家人)
Lôi Hỏa Phong (豐)
Thuần Ly (離)
Trạch Hỏa Cách (革)
Thiên Hỏa Đồng Nhân (同人)
Địa Trạch Lâm (臨)
Sơn Trạch Tổn (損)
Thủy Trạch Tiết (節)
Phong Trạch Trung Phu (中孚)
Lôi Trạch Quy Muội (歸妹)
Hỏa Trạch Khuê (睽)
Thuần Đoài (兌)
Thiên Trạch Lý (履)
Địa Thiên Thái (泰)
Sơn Thiên Đại Súc (大畜)
Thủy Thiên Nhu (需)
Phong Thiên Tiểu Súc (小畜)
Lôi Thiên Đại Tráng (大壯)
Hỏa Thiên Đại Hữu (大有)
Trạch Thiên Quải (夬)
Thuần Càn (乾)

THÁNG 08 NĂM 2017


24

Thứ năm


Ngày Quý Mùi
Tháng Mậu Thân
Năm Đinh Dậu
Âm Lịch
Ngày 3
Tháng 7

XEM CHI TIẾT NGÀY NÀY

Hoàng đạo Ngọc Đường (Tốt mọi việc, trừ việc bếp núc)
Trực Bế (Hung)
Tiết Xử thử (Mưa ngâu)
Là ngày: Tam Nương
Cát tinh: Thiên Thành
Hung tinh:
Lịch Khổng Minh: Kim Dương (Cát)
Giờ hoàng đạo:
Giáp Dần (3-5h,Thủy)
Ất Mão (5-7h,Thủy)
Đinh Tị (9-11h,Thổ)
Canh Thân (15-17h,Mộc)
Nhâm Tuất (19-21h,Thủy)
Quý Hợi (21-23h,Thủy)
[Xem thêm các ngày khác]

Từ khóa trang:

Thông tin liên hệ

ĐT chính: 0983 83 8853
ĐT phụ (khi số trên bận): 0988 21 3333
Viber | Zalo | FB Msg: 0983 83 8853
Skype: phongthuyvietaa
Email: vietaa@gmail.com
Facebook Fanpage
Làm việc: 8h-18h từ T2-T7
Địa chỉ: Ngõ 125 Trung Kính (cuối ngõ rẽ phải)

Tài khoản ngân hàng:
Đồng chủ tài khoản: Nguyễn Phúc Thuần
  • 0011000957600 VCB Sở giao dịch HN
  • 1305205277783 Agribank Tràng An
  • 22010000734816 BIDV Thăng Long
  • 19023567120288 Techcombank Đông Đô
  • Xem chi tiết cách thức liên hệ thanh toán